
Trang Thời Sự Úc Châu
- Hữu Nguyên-
LGT: Trong số những người Việt hải ngoại có uy tín quốc tế, thường xuyên và tích cực vận động giành tự do tôn giáo và nhân quyền cho Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua, ông Võ Văn Ái đã được nhiều người biết đến nhờ ở tấm lòng son sắt với lý tưởng cùng sự sáng suốt trong đấu tranh qua vai trò Giám Đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kiêm phát ngôn viên Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Không những thế, ông cũng còn là nhà thơ theo tâm nguyện "văn dĩ tải đạo" với bút hiệu Thi Vũ từ hơn 40 năm trước, và là người sáng lập, điều hành tờ Quê Mẹ Paris từ năm 1978, đồng thời là tác giả của nhiều tiểu luận, khảo luận có giá trị. Đặc biệt, sau khi VC cưỡng chiếm Miền Nam ngày 30-4-1975, ông còn là người đã tích cực vạch trần tội ác của CSVN, đồng thời đánh thức lương tâm thế giới trước thảm kịch của người Việt tỵ nạn tại Biển Đông, và là một trong những người đã góp phần đưa chiếc tàu Đảo Ánh Sáng ra Biển Đông để cứu người vượt biển. Nhân dịp ông Võ Văn Ái viếng thăm Úc Châu tường trình sinh hoạt GHPGVN Thống Nhất vào trung tuần tháng 6, Sàigòn Times trong số báo tuần trước, đã giới thiệu bài phỏng vấn "Nhà Thơ Thi Vũ" (bút hiệu của ông Võ Văn Ái) của tác giả Lê Vĩnh Phúc; và trong số báo tuần này, chúng tôi xin giới thiệu cùng quý độc giả, bài phỏng vấn ông Võ Văn Ái của Hữu Nguyên.
*
SGT: Kính thưa Gs. Gs là người đã có công sưu tập những bài thơ tù của Hoà Thượng Thích Quảng Độ xuất bản thành tập Thơ Tù”. Vậy xin Gs cho biết, những bài thơ tù đã được Hoà Thượng Thích Quảng Độ sáng tác trong hoàn cảnh nào; vì đâu Gs biết đến tập thơ, và tập Thơ Tù” đã được Gs biên soạn ra sao?
Gs Võ Văn Ái: Đây là những bài thơ Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ sáng tác trong tù, thời gian từ 1977 đến 1992. Kinh qua chuyến bị bắt lần đầu tiên năm 1977 tại nhà giam Phan Đăng Lưu ở Saigon, sau đó bị đưa về quản chế ở xã Vũ Đoài, tỉnh Thái Bình ở miền Bắc. Vì vậy mà tập thơ gồm có 3 phần: Thơ trong tù, Thơ lưu đày và Thơ trào phúng. Vì đâu mà tôi biết đến tập thơ? Vào tháng 9 năm 1998 Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ được đặc xá. Tôi làm ngay cuộc phỏng vấn khi ngài vừa về tới Saigon. Bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Quê Mẹ do tôi làm Chủ nhiệm và Chủ bút, số 147 phát hành hành tháng 9.1998. Trong cuộc phỏng vấn ngài cho biết thời gian tù ngục có làm 400 bài thơ và chuyển dần dà sang Pháp cho Sư Ông Thích Nhất Hạnh. Ngài tỏ vẻ ngạc nhiên khi tôi không biết việc này. Nhưng thực tế là từ năm 1970, tôi không còn liên hệ với Sư Ông Nhất Hạnh. Mặt khác, tập thơ không được Sư Ông Nhất Hạnh xuất bản nên chẳng ai biết. Một thời gian sau tôi ngỏ ý xin Hòa thượng cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in tập thơ này. Nhưng Phật sự của Giáo hội quá bận rộn, nên ngài không có thì giờ ngồi chép lại. Lâu lâu tôi lại nhắc. Mãi đến khoảng 2003 thì chúng tôi mới nhận được bản đánh máy từ Saigon gửi sang. Đó là bản chúng tôi đem in một cách trang trọng vào tháng tư 2004. Từ đó đến nay in lại cả thảy 3 lần.
SGT: Được biết, trong thời gian nửa năm qua, tập Thơ Tù” của Hoà Thượng Thích Quảng Độ đã được ra mắt tại nhiều nơi trên thế giới với sự tham dự của Gs. Xin Gs cho biết tóm tắt về những buổi ra mắt và cảm tưởng của Gs?
Gs Võ Văn Ái: Trước năm 1975 ở Saigon, và nay ở hải ngoại cũng vậy, thơ in rất khó bán. Vì sao? Tôi không biết câu trả lời mà còn ngạc nhiên, vì dân Việt Nam sính thơ nhất, nhiều người làm thơ nhất so với các nước khác. Ai cũng là thi sĩ, trong đời nhiều hay ít đều có lúc làm thơ. Ngày xưa trong nước được nhà xuất bản nào ghé mắt in thơ là đại hạnh. Ở hải ngoại bây giờ, kỹ thuật vi tính phát triển, rất nhiều người tự xuất bản không cần thông qua sự chọn lọc của một nhà xuất bản hữu danh. Trước đây tôi làm nghề in và xuất bản. Tôi từng xuất bản một số tập thơ của các thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, những nhà thơ nổi danh. In nghìn cuốn, nhưng số lượng bán chỉ là số chục! Điều ngạc nhiên đối với tôi là Thơ Tù bán rất chạy. Trong hai năm in ba lần và bán hết. Có thể nói là kỷ lục.
Tôi và chị Ỷ Lan đã được mời thuyết trình về Thơ Tù tại các nơi sau đây: lần ra mắt đầu tiên do Cộng đồng Việt Nam Tị nạn Cộng sản tại Hòa Lan tổ chức. Tiếp đến là Hoa Kỳ, tại chùa Như Lai ở Denver, rồi Houston, Monterey Park và Westminster (Nam California), San Jose (Bắc California), Boston, Hoa Thịnh Đốn. Ở Canada tại các tỉnh bang Calgary, Vancouver, Montréal, Toronto. Bây giờ tháng 6 năm 2009, tại Úc châu qua các thành phố Brisbane, Sydney, Perth, Adelaide, Melbourne.
Mỗi nơi mỗi vẻ, nhưng sự đón nhận của quần chúng vô cùng nồng hậu. Qua thơ nhưng Hòa thượng Quảng Độ hiển hiện lung linh và trìu mến giữa lòng người. Hai sự kiện bất ngờ ít thấy trong các cuộc ra mắt. Sự kiện thứ nhất hôm 12.10.2007 Đêm Nghệ sĩ Thắp Nến và Hát cho Dân Oan” tại thị trấn Garden Grove, Quận Cam, Nam California với sự tham dự khoảng 5000 đồng bào. Nhờ sự vận động của các Nghệ Việt Dzũng, Nam Lộc, v.v... trên 50 ca sĩ, bốn ca đoàn Tù Ca Xuân Điềm, Nắng Mới, Phong trào Hưng Ca và Trung tâm Asia cùng với Ban Nhạc Moonflower đã trình diễn liên tục trong một chương trình nhạc hào hứng để vừa hát cho Dân Oan vừa ra mắt Thơ Tù qua các giọng ca được mến mộ như Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Phương Dung, Trọng Nghĩa, Dạ Nhật Yến, Mỹ Lan, Dạ Lan, Thiên Kim, Nguyễn Hồng Nhung, Ánh Minh, Bích Châu, Lê Huy Phong, Nguyễn Tiến Dũng, em Trần Thiện Anh Chí, v.v... Đêm sau, ngày 13.10.2007 Thượng tọa Thích Viên Lý tổ chức tại Monterey Park, Nam California. Sách không đủ cho sự đòi hỏi của người tham dự. Nên đã có ba người yêu thơ mua ủng hộ 3 tập Thơ Tù với giá 3880 Mỹ kim, 1880 Mỹ kim và 888 Mỹ kim.
SGT: Trong buổi ra mắt tập Thơ Tù”, do Chùa Diệu Pháp tổ chức tại Hoa Kỳ, vào ngày 13 tháng 10, 2008, Thượng Tọa Thích Viên Lý, Tổng Thư Ký VPII VHĐ GHPGVNTN, đã nhận xét: Tập Thơ Tù” được Hoà Thượng Thích Quảng Độ sáng tác trong suốt thời gian bị lưu đày và quản thúc dưới chế độ CS Việt Nam, đã toát lên tinh thần vô úy hùng dũng bất khuất của một bậc đại nhân trước móng vuốt bạo quyền CS; nó biểu hiện một tinh thần khai phóng ung dung tự tại của bậc lãnh đạo kỳ tài trong chốn lao tù và chứa đựng thấm đượm đạo tình từ bi trước những thống khổ của dân tộc Việt Nam dưới ách đảng trị Cộng sản”. Là người có công biên soạn tập Thơ Tù”, Gs có suy nghĩ gì về nhận định này?
Gs Võ Văn Ái: Đánh giá như thế là đúng. Thơ Tù không phải là thơ nhàn đàm ngâm vịnh, phong hoa tuyết nguyệt. Thơ Tù là những hạt máu lăn trên đường khổ nạn của quê hương và con người Việt ở vào thời kỳ bi thiết của địa ngục trần gian. Là máu của bậc cao tăng, nên trong thơ có sự hùng dũng, vô úy, sóng đôi với lòng từ bi và sự bao dung.
SGT: Cũng trong buổi ra mắt tập Thơ Tù” do Chùa Diệu Pháp tổ chức, Gs trong tư cách Giám đốc phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, đã khẳng định: Thơ của Hoà Thượng Thích Quảng Độ mang tính siêu thoát của một bậc cao tăng từ bi giác ngộ, thấm đẫm tình nhân đạo; tập thơ phác họa bức tranh hoàn hảo nhất về cảnh bi thống nhất của dân tộc Việt Nam dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhưng thơ của Hoà Thượng không kêu gọi sự căm oán, thù hận, giết chóc mà chỉ nói lên tình thương yêu của con người”. Xin Gs cho biết lý do?
Gs Võ Văn Ái: Tôi không nói thì ai cũng biết, trong dòng lịch sử 2000 năm, chưa có lúc nào số lượng tù nhân đông như sau năm 1975. Phải tính số triệu. Tôi nhớ năm 1976 tại Paris, khi tôi báo động con số tù nhân tại Việt Nam là 800.000, báo chí Tây phương sửng sờ nhưng không dám tin. Đại sứ CS Hà Nội ở Paris phản ứng đưa ra con số 30.000. Một vài tháng sau, ký giả báo Pháp Cộng Humanité đi Việt Nam về đưa ra con số 50.000 tù nhân. Thế nhưng tháng 9 năm 1978, ký giả Jean Claude Labbé của tuần báo Paris Match đi Hà Nội phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng về tình hình Việt Nam. Nhân hỏi chuyện tù nhân Trại Cải tạo, ông Đồng cho biết Từ hai năm qua chúng tôi đã trả về cho gia đình họ trên MỘT TRIỆU người”!
Đó là nói về con số của kỷ nguyên tù đày dân tộc. Còn về cách cư xử với tù nhân ta có hai ví dụ nói lên tính nhân đạo và phi nhân giữa hai thời đại. Ở thời đại mà người Cộng sản châm biếm như phong kiến, thì năm 1069 vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành bắt vua Chế Củ và 5000 tù nhân đưa về Thăng Long. Triều đình thấy trong số tù nhân có một người văn hay chữ tốt, làu thông kinh sách, bèn đặc cách thu dụng. Người tù này là một vị sư, sau trở thành Thiền sư khai sơn một trong 4 dòng Thiền Việt Nam là phái Thiền Thảo Đường. Còn ngày nay, vào thế kỷ XX, chế độ "ưu việt" Cộng sản cư xử ra sao với tù nhân? Từ giới quân cán chính của VNCH cho đến giới trí thức, bác sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ bị bắt giam hàng triệu người khổ sai, đày đọa cho đến chết. Nhân tài không quý, chỉ qúy bọn đao phủ.
Trong hoàn cảnh ấy một vị cao tăng là Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng bị vùi dập nơi chốn lao tù. Nhưng đúng như lời trích trong câu hỏi của ông: "Tập thơ phác họa bức tranh hoàn hảo nhất về cảnh bi thống nhất của dân tộc Việt Nam dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhưng thơ của Hoà Thượng không kêu gọi sự căm oán, thù hận, giết chóc mà chỉ nói lên tình thương yêu của con người". Nơi cảnh địa ngục trần gian như thế, lẽ ra Người Tù Thích Quảng Độ sẽ gọi kêu sự oán thù, chống phá nếu không là trả thù. Nhưng khởi từ lòng từ bi của bậc chân tu, Hòa thượng vẽ ra cảnh ngộ hoành tráng của sự phi nhân, của thời đại thảm sát, để người đọc ý thức đến thực cảnh hầu tìm ra phương pháp trị liệu nỗi thống khổ trần thế. Có người nghĩ rằng gươm giáo, súng đạn và mật khu mới giải quyết được nạn Cộng sản. Với Hòa thượng Thích Quảng Độ, thì qua tập Thơ Tù và những văn kiện, thông điệp, tuyên cáo, kêu gọi phát đi từ Thanh Minh Thiền viện ở Saigon sau khi Hòa thượng ra tù năm 1998 cho đến nay, chỉ khơi dậy trong mỗi con người lâm nạn Việt Nam tính bất khuất và vô úy để thực hiện phương pháp bất bạo động giải quyết thảm nạn Cộng sản Việt Nam mà tiền đề là tiến trình dân chủ hóa đất nước.
SGT: Trong bài viết, Mấy ý nghĩ khi đọc Thơ Tù”“, viết vào dịp giáp Tết Bính Tuất 2006, Gs với bút hiệu Thi Vũ, đã nhận xét: Ngoài những bài thơ Đạo lung linh huyền diễm, Thơ tù của Hoà thượng Thích Quảng Độ còn đặc sắc ở những bài trào phúng. Nét châm biếm bén nhọn nhưng không hiểm độc, đùa bỡn mà không ác, đả kích nhưng phóng khoáng, bất hại”. Trong tư cách nhà thơ Thi Vũ, xin Gs cho vài thí dụ chứng minh?
Gs Võ Văn Ái: Chỉ có những nước văn minh, những con người lành mạnh, tự tin mới thích và dám trào phúng. Nước ta xưa có bà Hồ Xuân Hương, đầu thế kỷ XX có Tú Xương đẩy thơ trào phúng lên khí thế lột nhưng mặt nạ giả dối đầy dẫy trong xã hội. Trước cảnh người phụ nữ bị chà nghiến trong xã hội độc đoán, kỳ thị nam nữ thời hủ nho, nếu bà Hồ Xuân Hương lên giọng tố cáo, biểu tình phản đối, chưa chắc đã lay động lòng người từ bình dân đến trí thức, so với những bài thơ châm biếm ý nhị nhưng sắc độc khiến người đọc giật mình tỉnh thức. Những tờ truyền đơn khích động lòng yêu nước, chống bọn hủ nho và chống Pháp chưa chắc có tác dụng và chuyển hóa lòng người trước cảnh nhố nhăng của thời thế cho bằng những bài thơ châm biếm của Tú Xương. Khi trong tay không vũ khí chiến đấu, thiếu phương tiện phản công và có quần chúng đông đảo một lòng tập họp chống bạo quyền, thì thơ trào phúng là vũ khí làm vực dậy niềm tin nhân dân qua sự phê phán chính tà, đồng thời bẽ mặt kẻ thù.
Tại các nước văn minh, dân chủ, thường hiện hữu những tờ báo trào phúng. Các báo này châm biếm từ tổng thống, thủ tướng đến các giới trong xã hội. Nhờ vậy dẹp bớt những lố lăng, các hành xử đạo đức giả. Tại Pháp có tờ Canard Enchainé (Con Vịt cột), tại Anh có tờ Private Eye (Thám tử). Nước ta đầu thế kỷ XX có tờ Phong hóa của Tự lực Văn đoàn đưa ra hai nhân vật Lý Toét - Xã Xệ diễu cợt các hủ tục lạc hậu nơi làng xã buổi giao thời Âu Á.
Trở lại thơ trào phúng trong tập Thơ Tù, xin thử đọc một hai bài sau đây làm minh chứng cho điều tôi phát biểu. Ví dụ trước cảnh tượng ngày nay nhiều Tăng sĩ trong Giáo hội Nhà nước ăn mặn, uống rượu, sống như kẻ thường tục, nếu không là những công an khoác áo tu làm chỉ điểm, tất dễ cho ta thốt lời mạ lị, tố giác. Thế nhưng dưới ngòi bút trào phúng, HT Thích Quảng Độ nhẹ nhàng phác họa cảnh trái đời làm cho người đọc nhếch mép cười thầm. Từ đó gạt phăng lối sống giả dối ấy một cách đoan quyết cho chính bản thân mình:
Gửi Sư cụ Đảng viên
Sư cụ mà sao lại Đa"
Hởi ông ông chính hay ông tà?
Ăn cơm của Phật ông phản Phật
Làm việc nhà ma ông theo ma
Chó gà cá lợn mê bỏ mẹ
Hành hẹ tỏi riềng khoái thấy cha
Sao không mặc quách manh áo giấy
Khoác làm chi nữa tấm cà-sa?!
Theo truyền thống Phật giáo, người Tăng sĩ khi xuất gia không còn bái lạy ai khác ngoài đức Phật, cho dù đó là thế quyền, vua quan. Đây là truyền thống "bất bái quân vương". Thế nhưng năm 1980 ông chủ tịch nước Tôn Đức Thắng chết, nhà cầm quyền Cộng sản bắt một Hòa thượng và một vị Hồng y đứng hầu hai bên quan tài như hai con trưởng. Chuyện này đã từng xẩy ra thời ông Hồ Chí Minh chết. Bộ chính trị yêu cầu Hòa thượng Thích Đôn Hậu đứng gác quan tài. Cần biết sự kiện hồi Mậu Thân 68 Cộng sản bắt cóc Hòa thượng đưa lên núi rồi đưa ra Hà Nội, mong dùng uy danh của Hòa thượng để tuyên truyền trong giới quần chúng Phật tử. Nhưng Hòa thượng bảo rằng, Tăng sĩ theo truyền thống "bất bái quân vương" tôi không thể làm việc ấy. Bộ chính trị lại nói: "Hòa thượng tuy Tăng sĩ nhưng còn là một công dân. Đây là nhiệm vụ công dân chứ không là Tăng sĩ". Hòa thượng Thích Đôn Hậu liền đáp: "Quý vị nói đúng. Nhưng vì tôi tu học và xuất gia tại Huế vậy xin Đảng và chính phủ cho tôi trở lại Huế xin phép chư Tăng cho tôi xả giới thôi làm Tỳ kheo Đôn Hậu để trở thành công dân Đôn Hậu, lúc ấy mới thi hành nghĩa vụ công dân". Bực mình nhưng Bộ Chính trị không làm gì được. Cách đối đáp và phản ứng của một Tăng sĩ Phật giáo xem ra khác lắm với cung cách của đời thường.
Thơ trào phúng của Hòa thượng Quảng Độ cũng thế, không vạch mặt chỉ tên hay tố giác, mà dùng hình tượng vẽ ra bức tranh vân cẩu khiến người đọc không thể không thốn tâm trước việc đời điên đảo: tôn giáo cao cả bị hạ giá để cúi qùy thế quyền qua bài thơ:
Sư Cụ và Đức Cha
Sướng thân sư cụ và đức cha
Bảy ngày hiếu phục cái thây ma
Thõng thượt Đức cha đeo thập giá
Thùng thình Sư cụ khoác ca-sa
Khúm núm đứng hầu người trong quách
Xun xoe lạy tạ kẻ vào ra
Danh lợi đã lừa hai cặp mắt
Lù lù đống mối tưởng mồ cha!
SGT: Nói về thơ châm biết trong Thơ Tù, trong bài thơ Liên ngâm dại khôn”, Hoà Thượng Thích Quảng Độ đã viết:
Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
Nhìn người đập tượng: nhắm mắt ngồi
Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
Miễn được yên thân là khôn đấy
Can chi ậm oẹ để thiệt thòi
Đọc những câu thơ này, nhiều người thấy giá trị châm biếm của bài thơ không những đúng ở VN mà còn đúng cả ở hải ngoại; không những đúng trong quá khứ, hiện tại, mà còn đúng cả trong mai hậu. Gs nghĩ sao về nhận định này?
Gs Võ Văn Ái: Tôi có cần trả lời chăng? Vì câu hỏi của ông đã xác định nhận thức của tôi. Bài thơ châm biếm trên đây nó phi thời. Bởi nó diễn tả tấn trò đời không chỉ thấy bây giờ mà đã có trong quá khứ, không chỉ đúng ở Việt Nam mà còn xẩy ra ở hải ngoại. Hải ngoại là tấn tuồng nối dài từ quốc nội. Những chủ trương, âm mưu của người Cộng sản áp dụng cho 86 triệu dân như thế nào trong nước, họ xuất cảng ra hải ngoại thông qua Nghị quyết 36.
Những năm đầu sau 1975, Cộng sản bắt buộc mọi người phải theo đường lối của đảng. Ai không theo là phản động, là ngụy, có nguy cơ bắt bỏ tù. Những năm gần đây, CS không bắt mọi người bỏ tù nữa, miễn sao mọi người im lặng, không làm gì, không phê phán đảng và chính quyền là được. Ta có thể kết luận rằng, ngày nay im lặng, dửng dưng với thời cuộc đất nước là đã ủng hộ Đảng và Nhà nước (theo nhận thức của đảng).
Bài Liên ngâm dại khôn” vẽ ra cảnh trạng ngày nay của một số Tăng sĩ và Phật tử ở hải ngoại dù vô tình hay cố ý quay lưng với đời theo kiểu:
Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
Nhìn người đập tượng: nhắm mắt ngồi
Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
Miễn được yên thân là khôn đấy
Can chi ậm oẹ để thiệt thòi
Nói tóm là thủ tiêu tranh đấu, dù dân đói khổ, thiếu tự do, tôn giáo bị đàn áp, đất nước đang bị Trung quốc lấn chiếm. Cái cớ đưa ra cho sự tụ thủ bàng quan này là Phật tử phải lo tu học”, làm văn hóa”, không làm chính trị”. Những cái cớ này cốt che đậy sự vị kỷ sống chết mặc bay”, nếu không là thỏa hiệp, đồng lõa với cộng sản. Nếu các đoàn thể, tổ chức, đặc biệt giới truyền thông, báo chí không có đối sách hướng dẫn dư luận, ngăn phòng những âm mưu lũng đoạn, phân hóa, ly gián cộng đồng, thì từ văn hóa đến hành động, dân tộc sẽ bị tiêu trầm và bị nuốt chửng vào bao tử của nền văn hóa vị kỷ và ngoại lai cộng sản.
SGT: Gs vừa đề cập đến bài bài thơ trào phúng Sư Cụ và Đức Cha”. Xin Gs cho biết, bài thơ này đã được sáng tác trong bối cảnh nào, và giá trị của nó trong việc bảo vệ truyền thống bất bái quân vương” của đạo pháp dân tộc?
Gs Võ Văn Ái: Như đã nói, năm 1980 khi ông Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng chết, Hòa thượng Thích Quảng Độ nhìn truyền hình thấy cảnh hai nhà lãnh đạo tôn giáo đứng gác quan tài. Phía Phật giáo là cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, và phía Công giáo là Hồng y Trịnh Như Khuê, nếu tôi không lầm. Vì thế, ngài đã làm bài thơ này. Giá trị của bài thơ ngoài khía cạnh xã hội còn nhắc nhở tới vai trò không quy phục thế quyền (bất bái quân vương). Đặc biệt là không tham gia chính trị như một số nhà sư trong Giáo hội Phật giáo Nhà nước. Theo giới luật Phật chế Tăng sĩ không được tham gia chính trị. Cho nên các nhà sư tham gia vào Quốc hội Cộng sản đều phạm giới luật Phật chế gọi là Ba la đề mộc xoa.
SGT: Đọc Thơ Tù” có người nhận xét đó là tập thơ thiền. Nhưng Gs thì cho rằng, Đánh giá như thế, tuy làm siêu thoát thơ nhưng đồng thời hạn chế trời thơ bát ngát”. Tại sao vậy thưa Gs? Và làm thế nào để có tấm lòng thiền” ngỏ hầu phát hiện được thiền tính khi đọc Thơ Tù”?
Gs Võ Văn Ái: Nói tới Thơ Thiền tất có thơ không thiền. Như vậy là đã giới hạn thơ vào những phạm trù mà tự thơ không có. Chỉ có thơ hay, thơ dở. Viết câu trên tôi muốn người đọc lưu tâm đến cõi thơ bát ngát, thay vì sắp hạng thơ. Chả lẽ vì người làm thơ là một vị Tăng, hay vì sử dụng một số thuật ngữ Phật giáo, nên thơ thành thơ thiền ư? Những bài thơ khác và là thơ kỳ diệu của các nhà thơ không là Tăng sĩ, thì không phải thơ thiền sao? Thiền là bất lập văn tự, không định nghĩa. Định nghĩa tất xa lìa thiền. Thiền vượt mọi giả danh để sống thực. Con mắt nó quay vào đâu, sự vật được chiếu sáng, tình cảm được trân ái. Thơ thiền không chỉ là kệ truyền pháp hay dòng thơ đạo lý. Thơ thiền bát ngát lung linh nơi mọi góc độ sinh hoạt trần gian theo những tấm lòng thiền rưng cảm. Người có tâm thiền làm thơ, là sống cái tự do trước những điều bức tử nhân sinh. Trước thịnh suy không rúng động. Trước sống chết không sợ hãi: Thơ nắn ra nụ cười tự do phơi phới trên môi ngôn ngữ. Cảnh thơ là lý sống. Bài thơ là món quà truyền tâm. Ai sống được như thế, thì làm thơ hay đọc thơ, tự thân đã là tấm lòng thiền.
SGT: Nhân dịp phỏng vấn Gs, xin nhắc lại những kỷ niệm của cuối năm 1978, đầu năm 1979, khi Gs và tạp chí Quê Mẹ đã đóng vai trò then chốt trong việc vận động thành lập Uỷ Ban Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” mà kết quả là chiếc tàu mang tên Đảo Ánh Sáng (Ile de Lumière) đã vừa là bệnh viện nổi cho người tỵ nạn tại Pulau Bidong, vừa ra khơi cứu người VN vượt biển tại biển Đông. Nhớ lại những chuyện xảy ra cách đây 30 năm, Gs thấy có những kỷ niệm nào đáng nhớ nhất và có ý nghĩa nhất?
Gs Võ Văn Ái: Tôi nhớ hai kỷ niệm. Kỷ niệm thứ nhất là thời gian vận động lúc đầu khá khó khăn. Khó khăn thứ nhất do Tổng thống Pháp, Valéry Giscard d'Estaing, thân với ông Brejnev bên Liên Xô nên lúc đầu lạnh nhạt với chiến dịch. Sợ ủng hộ Người Vượt Biển sẽ mất lòng Liên Xô vì Liên Xô là mẫu quốc của Hà Nội. Nhưng sau nhờ giới trí thức Pháp thúc đẩy nên Tổng thống Pháp đã thay đổi. Đặc biệt là hai nhà đại trí thức kình chống nhau là Raymond Aron và Jean Paul Sartre bỗng cùng nhau vào Điện Elysées bênh vực cho Người Vượt Biển. Khó khăn thứ hai là quyên tiền để trang trải thuê tàu cùng chi phí cho hải trình. Lúc đó, đài truyền hình Hòa Lan sang Paris phỏng vấn tôi. Người phỏng vấn theo đảng Xã hội mang thành kiến xem người miền Nam là tay sai của đế quốc Mỹ”. Ông ta hỏi tôi rằng tại sao thuê tàu đi vớt những kẻ cộng tác với đế quốc Mỹ”? Tôi phân tích cho ông ta hiểu thành phần bỏ nước ra đi đa số là dân thường, nông dân, thợ thuyền, nhiều cha mẹ không đủ tiền ra đi phải chạy vạy cho con trẻ ra đi vì tương lai của chúng. Những kẻ ra đi vì không sống nổi dưới chế độ bức hiếp và lạc hậu Cộng sản. Rồi tôi quay ngược câu hỏi, hỏi lại ông ta: Tôi xin phép hỏi lại ông, khi ông đi trên thành phố Amsterdam bỗng thấy có người chết đuối trên lạch, ông sẽ nhảy ngay xuống cứu người ấy? Hay ông hỏi xem người ấy khuynh tả hay khuynh hữu ông mới cứu?” Cần nhớ thời ấy giới phản chiến thịnh hành, do báo chí bị các đảng Cộng sản Châu Âu và Liên Xô mua chuộc, lũng đoạn, nên ít có cảm tình với miền Nam. Vì vậy câu nói của tôi gây suy nghĩ và xúc cảm người Hòa Lan. Bài phỏng vấn tôi được chiếu ba lần trước dịp Giáng sinh năm 78 và thu được bảy triệu quan Pháp, thời ấy là số tiền rất lớn giúp cứu Người Vượt Biển.
Kỷ niệm thứ hai, là do ảnh hưởng chiến dịch con tàu quá lớn khiến thế giới bỗng lưu tâm tới phong trào Người Vượt Biển và sự vi phạm nhân quyền trầm trọng của Cộng sản Hà Nội. Nên báo chí Hà Nội tung những bài viết đánh phá dữ dội. Chuyện Cộng sản chống là chuyện bình thường. Nhưng điều đáng buồn là có vài người trong phe quốc gia cũng nổi lên bêu riếu, phá phách chuyện con tàu. Tôi nhớ báo Văn Nghệ Tiền phong bên Mỹ viết bài Con Tàu Ma”. Mấy người quốc gia” phá rối ở Paris viết bài nặc danh vu khống chúng tôi quyên góp tiền bỏ túi hay gửi cho Hà Nội (sic). Rồi họ trao hồ sơ” cho tuần báo cực hữu Minute tố tôi lấy tiền quyên góp bỏ túi. Họ không biết rằng chúng tôi chỉ vận động cho tàu Đảo Ánh sáng ra đời. Còn tiền bạc quyên góp do một Ủy ban của các bạn Pháp cáng đáng. Tôi truy tố tuần báo Minute ra tòa án Paris và thắng kiện. Ngày ra tòa, nhân chứng cho tôi gồm có bà Chủ tịch Ủy ban Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam, nhà văn nữ Cladie Broyelle, ông Olivier Todd, Chủ bút tuần báo Express ở Paris, bà Francoise Gautier, thủ qũy, nhà ly khai Ukraine Leonid Pliouchtch, v.v” Thế nhưng vì cố công cho tàu ra Biển Đông vớt người, anh chị em trong tòa soạn tạp chí Quê Mẹ, đặc biệt tất cả thợ thầy trong nhà in của tôi ngày đêm tham gia, nỗ lực cho con tàu hiện hữu, bỏ bê khách hàng. Nên qua năm 1982 nhà in chúng tôi vỡ nợ bị tịch biên gia sản. Lúc ấy chúng tôi không biết ra gặm cầu nào mà sống. May các bạn ly khai Nga và Đông Âu tỏ tình huynh đệ chiến đấu và với sáng kiến của nhà văn Leonid Pliouchtch đứng ra thành lập Hội Những Người Bạn Quê Mẹ kiếm tài chánh, người cho mượn người tặng dữ, giúp chúng tôi thoát nạn. Hội bao gồm hàng trăm nhân vật quốc tế, trí thức, nhà văn, giải Nobel, chính khách, v.v” Tôi thấm thía và hiểu câu tứ hải giai huynh đệ” là gì.
SGT: Được biết, năm 1969, nhà xuất bản An Tiêm Sàigòn có xuất bản tập thơ Hoa Nắng” của Thi Vũ, bút hiệu của Gs. Trong tập thơ có bài thơ Kẻ Lạ”, trong đó có đoạn Gs viết rất thâm thuý:
Ngày dài đêm cũng dài, vì ta sống trong hiu quạnh và cô đơn.
Bỗng chiều nay kẻ lạ đến gõ cửa.
Lòng xôn xao chan chứa mừng vui đón kẻ lạ từ xa.
Một kẻ lạ mà ta đã từng quen biết.
Ta đón mời với tất cả nhiệt tình. Như kẻ hành hương thấy dáng thánh đường...”
Thưa GS, so với 40 năm trước, hiện tại cuộc sống của Gs ra sao, đã hết hiu quạnh và cô đơn? Ngày nay, cái cảm xúc gặp kẻ lạ đã từng quen biết” mà như kẻ hành hương thấy dáng thánh đường” của Gs có nhiều hơn ngày xưa không? Và trải qua 40 năm đấu tranh cho đạo cũng như cho đời, Gs thấy dáng thánh đường” nào của ngày xưa đã làm cho Gs tin tưởng và hy vọng? Và có dáng thánh đường” nào của ngày xưa đã làm Gs thất vọng?
Gs Võ Văn Ái: Bài thơ này mang lại cho tôi mấy kỷ niệm. Nhà xuất bản Unicorn Press ở Hoa Kỳ đã chọn bài này cùng với 11 bài khác để ấn hành tập thơ của tôi năm 1969. Khi tập Hoa Nắng phát hành ở Saigon, một hôm tôi nhận được bức thư của Linh mục Lan dạy tại Học viện Thần học Pius X ở Dalat. Cha Lan nói rằng cha đã đọc bài thơ Kẻ Lạ để mở đầu khóa giảng thần học.
Trong đời có hai thứ cô đơn. Nỗi cô đơn của Mặt trời, và nỗi cô đơn của Con Người. Tôi không sợ cô đơn. Tôi không đi tìm số đông. Vì tôi hãi hùng sự cuồng tín và cố chấp của số đông. Việc làm tốt đẹp và bền vững hơn cả là việc làm trong sa mạc của thiểu số. CS chủ súy tập thể và xem con người là số không trong tập thể. Tôi chấp nhận làm số không để tránh xa bầy đoàn. Tôi chấp nhận cô đơn để thành Người và học nỗi cô đơn của mặt trời.
SGT: Trở lại tình hình đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo tại VN hiện nay, xin Gs cho biết, ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt của việc CS Hà Nội bị tố cáo vi phạm nhân quyền tại Hội Đồng Nhân Quyền LHQ vào ngày 8/5 vừa qua, trong khi ở bên ngoài, hơn 500 người Việt khắp 5 châu biểu tình chống VC?
Gs Võ Văn Ái: Hà Nội bị tố cáo tại kỳ Kiểm điểm Thường kỳ Toàn diện (UPR, Universal Periodic Review) hôm 8.5 vừa qua ở trụ sỡ Hội đồng Nhân quyền LHQ Genève là sự minh chứng hai điều. Thứ nhất, chính sách đàn áp nhân quyền và tôn giáo của nhà cầm quyền Cộng sản không hề thay đổi. Mặc dù bản phúc trình ông Thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội, Phạm Bình Minh, đọc một giờ đồng hồ toàn là những lời tránh né và dối gạt công luận quốc tế. Thử nêu vài sự dối gạt như sau:
a. Theo Quyết nghị số 5/1 (ngày 18.6.2007) của LHQ thì các bản phúc trình phải căn cứ vào cuộc tham khảo các xã hội dân sự toàn quốc”. Nhưng 14 tổ chức được tham khảo đều nằm trong Mặt trận Tổ quốc. Nghĩa là ngoại vi của Đảng cộng sản. Không hề có các tổ chức Phi chính phủ độc lập hay xã hội dân sự tại Việt Nam;
b. Cho biết có 13 nghìn sắc luật ra đời từ năm 1986 đến nay. Nhưng không cho biết cụ thể các luật ấy bảo vệ người dân ra sao. Trái lại luật làm ra chỉ để đàn áp, và chẳng tương hợp với các Công ước nhân quyền LHQ như Công ước quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị. Có những điều luật mơ hồ và hổ lốn gọi là an ninh quốc gia” trong bộ Luật Hình sự, mà 7 điều đưa tới án tử hình nhằm đàn áp những người bất đồng chính kiến, Nghị định 38/2005 cấm biểu tình, Chỉ thị chống đình công (những ai đình công phải trả 3 tháng lương cho chủ “), Pháp lệnh số 44 năm 2002 quản chế tại gia người công dân hoặc đưa vào nhà thương điên mà không thông qua sự xét xử tại tòa án, cũng như những đạo luật vừa công bố, hạn chế trên lĩnh vực báo chí và Internet (như Thông tư 07/2008/TT- BTTT hạn chế việc thiết lập blog).
c. Luận điểm nhân quyền không có con người, vì xem cuộc tranh đấu giành độc lập của Đảng Cộng sản mới là nhân quyền”. Mặt khác còn khư khư bảo vệ cái gọi là Ngoại lệ nhân quyền Châu Á” làm lá chắn cho việc bãi truất các tự do và quyền của con người;
d. Khẳng định rằng Việt Nam cộng sản tôn trọng tự do tôn giáo. Thực tế là những tổ chức tôn giáo quốc doanh mới được công nhận cho hoạt động ; tất cả các tôn giáo khác đều bị ngăn cấm, các tín đồ bị sách nhiễu và giam giữ.
Tại cuộc kiểm điểm, 15 quốc gia Âu, Mỹ Á đã lên tiếng tố cáo và khuyến thỉnh Hà Nội phải thay đổi cụ thể chính sách nhân quyền.
Điều thứ hai tôi muốn nhấn mạnh là vấn đề đặt ra cho Cộng đồng Người Việt Hải ngoại: làm sao để các quốc gia lên tiếng tố cáo Hà Nội? Câu trả lời là chúng ta phải thông tin và cung cấp hồ sơ nhân quyền cập nhật. Chúng tôi, Cơ sở Quê Mẹ: Hành động cho Dân chủ Việt Nam và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam đã phải nỗ lực vận động một năm ròng để thông tin và cung cấp hồ sơ nhân quyền. Với khoảng 50 quốc gia chúng tôi gặp gỡ, đa số không biết gì nhiều về Việt Nam ngoài việc kinh tế mà họ tưởng rằng Hà Nội đang phát triển tốt”. Vấn đề đàn áp nhân quyền và tôn giáo họ lại càng mù tịt. Hồ sơ chúng tôi cung cấp đã giúp đỡ các quốc gia này nhìn ra thảm trạng nhân quyền Việt Nam. Nhờ vậy họ mới lên tiếng chất vấn Hà Nội.
Ngoài ra, mỗi năm có mặt tại các khóa họp nhân quyền, tôi thường xuyên lên tiếng tố cáo và cập nhật hồ sơ. Và theo thủ tục UPR, chúng tôi, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người VN cùng với Liên Đoàn Nhân quyền Quốc tế, đã nộp phúc trình theo hạn định từ tháng 11.2008. Hội đồng Nhân quyền LHQ đã dùng tư liệu của chúng tôi để chất vấn Hà Nội.
Để hiểu rõ vận động nhân quyền quốc tế trình bày như trên so với việc tranh đấu nhân quyền xuân thu nhị kỳ” tôi xin đơn cử một ví dụ vừa thấy qua ở Genève. Có một Thượng tọa Phật giáo từ Úc sang dự biểu tình. Ông làm một cử chỉ ngoạn mục, là vào cuối cuộc biểu tình, ông Thượng tọa này cầm bản phúc trình của Hà Nội đưa cao lên xé trước mặt một số người rồi vứt xuống đất. Mọi người vỗ tay hoan nghênh sung suớng. Một cử chỉ như thế khá kịch tính nếu không nói là dễ mị dân. Song vấn đề chính yếu là làm sao, làm thế nào, để bản Phúc trình của Hà Nội bị xé nát trong Điện Quốc Liên, không bằng hai tay vung vít, mà bằng những lời chất vấn và tố cáo đanh thép khiến bản phúc trình của Hà Nội trở thành vô hiệu? Muốn thế, phải vận động hành lang, phải thu thập hồ sơ, viết hồ sơ theo ngôn ngữ quốc tế, từ nhiều năm tháng trước, như việc làm của con ong, cái kiến. Chứ không thể tạo suông sự hoan hô, vỗ tay dễ dãi trong cộng đồng, mà chẳng có hành động bao vây mặt trận ngoại giao của CS Hà Nội trên trên trường quốc tế.
Nói về cuộc biểu tình bên ngoài Điện Quốc liên của trên 500 người Việt từ Năm châu tụ về nơi Công trường LHQ, là một thành công khó tưởng tượng ra. Chứng tỏ tinh thần tranh đấu của người Việt hải ngoại rất cao, rất kiên trì và đột xuất. Có thể có chia rẽ, phân hóa, tranh chấp giữa tổ chức này hay tổ chức khác, đoàn thể này hay đoàn thể kia do bọn Nằm vùng lay động, giật dây, phân hóa. Nhưng ở phạm vi quần chúng thì KHÔNG. Đây là điều đáng mừng và mang lại nhiều tương lai cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.
Ngày 10/4, khi cơ sở Quê Mẹ và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam của chúng tôi ra thông cáo kêu gọi biểu tình vì việc cần thiết phải làm. Nhưng không ngờ sự hưởng ứng và tham gia của các vị nhân sĩ, trí thức và 40 tổ chức, đoàn thể, tôn giáo, đảng phái thực hữu góp mặt thành trận tuyến hải ngoại. Đây là ý nghĩa trân quý của hai từ ngữ Quần chúng hay Lòng dân mà chúng ta vừa chứng kiến hôm 8.5 tại LHQ Genève.
SGT: Về tình hình của Phật giáo hiện nay, xin được hỏi Gs 2 câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất, thưa Gs, ngày 16/5 vừa qua, Uỷ Hội Hoa Kỳ Bảo Vệ Tự Do Tôn Giáo có đến vấn an Hoà Thượng Thích Quảng Độ và nhân dịp này, Hoà Thượng đã khẳng định: Chừng nào mà còn chế độ cộng sản thì chừng ấy chúng tôi còn phải chịu đựng, không hy vọng gì có sự thay đổi, trừ khi có sự thay đổi chính trị toàn bộ”. Trong tư cách Giám đốc phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, xin Gs giải thích sự thay đổi chính trị toàn bộ” mà Hoà Thượng Thích Quảng Độ đề cập là như thế nào? Câu hỏi thứ hai, cũng trong buổi vấn an của Uỷ Hội Hoa Kỳ, Hoà Thượng Thích Quảng Độ một lần nữa xác nhận: Tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hiện nay là Giáo hội Phật giáo Nhà nước, Giáo hội Phật giáo của Đảng, của Cộng sản. Các sư làm việc trong giáo hội này là đảng viên cộng sản”. Qua lời tuyên bố của Hoà Thượng Thích Quảng Độ, mọi người thấy rõ 2 sự thực bất khả chối cãi. Thứ nhất, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam là giáo hội của đảng cộng sản. Thứ hai, các sư làm việc trong giáo hội này là đảng viên cộng sản. Vậy thưa Gs, nếu HT Thích Quảng Độ đã xác nhận 2 sự thực trên thì những vị sư làm việc trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được một số sư sãi ở hải ngoại bảo lãnh và được CSVN cho phép xuất ngoại trong thời gian hơn 20 năm qua, họ có phải là đảng viên cộng sản hay không? Và nếu phải, thì việc một số sư sãi ở hải ngoại bảo lãnh các đảng viên CS đội lốt sư đó phải được đánh giá và phê phán nghiêm khắc như thế nào?
Gs Võ Văn Ái: Sự thay đổi chính trị toàn bộ” mà Hoà Thượng Thích Quảng Độ đề cập trong câu hỏi thứ nhất của quý báo, có nghĩa là đất nước phải thoát ly chế độ độc tôn đảng trị bước sang thể chế dân chủ, tự do và đa đảng. Về câu hỏi thứ hai thì đúng như vậy. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời tháng 11 năm 1981 là giáo hội Phật giáo do Đảng và Nhà nước thiết lập để làm công cụ chính trị cho đảng Cộng sản, chứ không để hoằng hóa lợi sinh theo giáo lý cứu khổ của Đức Phật. Vì vậy mà trong nước quần chúng gọi là Giáo hội Nhà nước hay Giáo hội Quốc doanh. Gọi Giáo hội” là đối với quần chúng quốc nội. Chứ các tài liệu ngoại ngữ, Hà Nội chỉ dùng chữ Hội Tăng già Phật giáo”, tức Phật giáo vẫn còn nằm trong quy chế hiệp hội của Dụ số 10 dưới thời Pháp thuộc. Muốn hiểu rõ việc này, rất nên đọc tài liệu quan trọng của ông Đỗ Trung Hiếu viết năm 1994, có tên là Thống nhất Phật giáo”.
Ông Đỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, đảng viên cộng sản thâm niên, phụ trách vấn đề tôn giáo. Ông được các ông Xuân Thủy rồi Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn trực tiếp giao phó nhiệm vụ thống nhất Phật giáo”, mà thành quả là sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước) ngày 4 tháng 11 năm 1981 tại Hà Nội. Chính ông Xuân Thủy, người điều khiển Phái đoàn Hà Nội tại hòa hội Paris cuối thập niên 60, bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận và Mặt trận Trung ương, kiêm bí thư Đảng Đoàn Ủy ban Mặt trận Trung ương, đã triệu ông Hiếu từ Saigon ra Hà nội đầu năm 1979 và giao cho ông Hiếu chức Chính ủy của đoàn công tác thống nhất Phật giáo Việt Nam.
Qua tập tài liệu 50 trang đánh máy, khổ A4, mang tựa đề Thống Nhất Phật giáo”, ông Đỗ Trung Hiếu cho biết chi tiết từng tên tuổi các vị lãnh đạo Đảng đến hàng giáo phẩm cao cấp Phật giáo, theo hoặc chống, trong quá trình thống nhất Phật giáo, do Đảng chủ trương, từ sau ngày Saigon sụp đổ năm 1975. Ông Hiếu cho biết một cách chính xác chủ trương của Trung ương Đảng và Ban Dân vận Trung ương về vấn đề thống nhất Phật giáo: Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử ; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (...) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (...) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.
Ông Hiếu nhận định về sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước) tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4.11.1981, như sau: Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Đại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, GHPGVNTN là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Đảng”. (...)Cuộc thống nhất Phật giáo lần này bên ngoài do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Đảng”.
Sự thật là thế đấy.
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nhận định các sư làm việc trong giáo hội này là đảng viên cộng sản” là sự thực. Nhưng cần hiểu là các sư lãnh đạo Giáo hội Nhà nước cùng một số sư tay sai nằm ở hạ tầng cơ sở để kiểm soát. Thập niên 90, chúng tôi có đưa ra số liệu 3000 công an giả sư xâm nhập vào giáo đoàn để điều hướng Phật giáo. Nói sư đảng viên có nghĩa là những người có thẻ đảng. Tuy nhiên có những vị sư, tuy không thẻ đảng, nhưng hành tung phi tăng, phi Phật giáo của họ còn nguy hiểm gấp bội cho cộng đồng Phật giáo mà chúng ta thấy trên đà phát triển ở hải ngoại. Sư đảng viên chỉ nhắm việc đảng hóa Phật giáo, tức xích hóa đạo Phật, biến Phật giáo thành Phật giáo Xã hội Chủ nghĩa. Đối với loại sư này, quần chúng Phật giáo dễ nhận, dễ tránh xa, dễ vô hiệu hóa.
Còn giới sư không đảng viên, nhưng a dua, a tòng, thỏa hiệp với nhà nước cộng sản, sức công phá nguy hại gấp hai. Một là họ phá đạo như các sư đảng viên, đồng thời họ phá tan niềm tin Phật của quần chúng tín đồ. Ở Hoa Kỳ có sư Thích Thông Kinh mang thẻ đảng hoạt động từ thập niên 90 đến nay, Phật tử biết nên chẳng bao người theo. Trái lại các vị sư không thẻ đảng, lại đi đêm thỏa hiệp với cái đảng chống tôn giáo, tiêu diệt Phật giáo, đưa tới hệ quả gây hoang mang tín đồ, gây phân hóa cộng đồng, làm mất tín tâm Phật tử. Giới sư này hiện đang manh nha ở hải ngoại.
Tôi lấy một ví dụ ở Pháp có vị sư thỉnh thoảng tham gia biểu tình chống Cộng sản, trong chùa sư cho xây đài tưởng niệm Thuyền nhân. Nhưng ngày khai trương một ngôi chùa tại Pháp, sư mời một vị chức sắc trong Giáo hội Phật giáo Nhà nước và một cán bộ trong Ban Tôn giáo chính phủ sang hành lễ. Khách bàng quan chẳng nói gì được. Sư chống Cộng” cơ mà, dù xuân thu nhị kỳ. Còn việc mời giới Phật giáo Nhà nước sang thì có sao đâu, đây là việc tín ngưỡng, việc tôn giáo, có dính gì đến chính trị đâu. Các đoàn thể, tổ chức mỗi khi biểu tình, hội luận đều tiếp tục mời sư cho có tính cách liên tôn”, đoàn kết”. Nhưng là liên tôn” không thống hợp, đoàn kết” đi bên lề. Gây hoang mang làm cho quần chúng chán chường, cô lập, phân hóa và cuối cùng là thủ tiêu tranh đấu. Vô hình trung biến mình vào định nghĩa của Cộng sản: Tị nạn kinh tế”!
Quý báo hỏi Việc một số sư sãi ở hải ngoại bảo lãnh các đảng viên CS đội lốt sư đó phải được đánh giá và phê phán nghiêm khắc như thế nào?” Thiển kiến tôi, đây không còn là việc đánh giá”, phê phán” nữa, mà là thái độ và biện pháp. Người Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ, cần có thái độ và biện pháp. Một thái độ tẩy chay và một biện pháp bao vây sự lũng đoạn. Tuy nhiên để tránh ngộ nhận và chụp mũ, chúng ta cần phần biệt hai vấn đề tôn giáo và thế sự. Chúng ta dùng thái độ tẩy chay và biện pháp bao vây sự lũng đoạn là hành xử đối với con người thế sự, con người chính trị của vị sư. Nhưng tuyệt đối không đụng vào con người tôn giáo của vị sư ấy. Ở lĩnh vực tôn giáo chúng ta kính trọng tất cả các vị sư. Hiển nhiên khi vị sư ấy không nghiêng ngửa theo chế độ độc tài làm khổ dân và điêu linh đất nước.
Thái độ và biện pháp nằm trong tay tín đồ và cộng đồng. Bởi vì mọi ngôi chùa, ngoài giáo hạnh của vị sư, còn có công lao tín đồ (đàn na tín thí) góp công góp của. Một cộng đồng lành mạnh không thể để cho tinh thần Chống Cộng trở thành việc buôn thần bán thánh hay để bồi đắp thùng Phước sương. Tinh thần Chống Cộng phải thừa kế nền văn hiến lâu đời của dân tộc trong tiến trình dân chủ hóa đất nước.
SGT: Chân thành cảm ơn thì giờ quý báu của Gs và xin kính chúc Gs cùng Ban Tổ Chức buổi ra mắt tập Thơ Tù” của HT Thích Quảng Độ sắp tới tại Úc thành công mỹ mãn.