Powered by Bravenet Bravenet Blog

Monday, October 12th 2009

10:48 PM

Nhà văn DUYÊN ANH. Niềm Hãnh Diện của Dân Tộc Việt Nam: Phỏng vấn Từ Ngọc Lê về Nhà văn Duyên Anh

- Lê Dinh-

LGT: Duyên Anh Vũ Mộng Long Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình, học tiểu học và trung học ở Thái Bình và Hà Nội, năm 1954 di cư vào Nam một mình, mưu sinh vất vả bằng rất nhiều nghề: quảng cáo cho gánh xiệc, dạy đàn, dạy học... trước khi bước vào nghề viết văn năm 1960, và trở thành một nhà văn, nhà báo nổi tiếng khiến hàng triệu độc giả đắm say, ngưỡng mộ; và cũng không thiếu kẻ thành danh nhưng tâm bất chính, kiêng nể, sợ hãi, ghen ghét; và đặc biệt, Việt cộng rất căm thù ông. Ông từng chủ trương tuần báo Tuổi Ngọc, là cây viết trụ cột của tuần báo Con Ong, Người và các nhật báo Xây Dựng, Sống, Hòa Bình... Ông cũng đã in 50 tác phẩm ở Việt Nam trước 1975, và từ khi ra hải ngoại, viết thêm hơn 20 tác phẩm (thơ, nhạc và tiểu thuyết), trước khi ông qua đời tại Paris ngày 6 tháng 2 năm 1997. Ngưỡng mộ cuộc đời và sự nghiệp của Duyên Anh, ông Lê Dinh đã dự định viết cuốn sách "Niềm Tin" nói về nhà văn Duyên Anh. Đây là một việc làm vô cùng khó khăn, vì Duyên Anh là một nhà văn nổi tiếng, tài hoa trong nhiều lĩnh vực; nhưng cũng là nạn nhân của nhiều thế lực hắc ám trong xã hội, trong đó có cả VC. Do đó, để cho công việc hữu hiệu hơn, ông đã đi tìm, gặp và phỏng vấn nhiều nhân vật nổi tiếng về nhà văn Duyên Anh. Trong những số báo trước, Sàigòn Times đã giới thiệu bài phỏng vấn Nguyễn Khánh Do và Phạm Nghiêm, Bạch Thái Hà. Trong số báo tuần này và tuần sau, chúng tôi xin giới thiệu bài phỏng vấn ông Từ Ngọc Lê, nhằm vinh danh một nhà văn tài hoa, giầu tâm huyết, đầy nghị lực, và trước sau như một trên con đường chống cộng sản.

*

Lê Dinh: Sơ lược tiểu sử của anh?

Từ Ngọc Lê: Chữ tiểu sử có vẻ quá lớn đối với tôi. Tôi chỉ là một người Việt Nam bình thường, nhưng phần nào may mắn hơn các bạn của tôi đã chết, oai hùng như Nguyễn Tạ Quang (Hải quân, Hoàng Sa), Phạm Thăng Được (Không quân, Quảng Trị) hay thê thảm như Trung úy quân y Hoàng Lộc trong trại cải tạo. Sơ lược vài điểm chính: sinh năm 1943 tại Yên Đổ, Hà Nam, học tiểu học ở Nam Định và Hải Phòng. Năm 1954 theo gia đình di cư vào Nam và lần lượt lưu lạc tại Nha Trang, Tuy Hòa, Qui Nhơn. Sau đó, học tại đại học Văn khoa Sàigòn (ban Triết Đông và văn chương Việt Hán), Báo chí (đại học Vạn Hạnh). Làm báo và phát thanh tại Sài Gòn. Năm 1975 đi tù. 1980 được về. Tháng 11-1982 vượt biển, được tàu Pháp vớt lên trại Palawan (Philippines). Cuối năm 1983 qua Pháp và định cư tại Paris cho đến nay. Ở hải ngoại đã cộng tác với các báo: Người Việt (Cali), Văn Nghệ Tiền Phong (Washington DC), Việt Luận, Nhân Quyền, Thời Báo (Úc), Chiến Hữu, Tiếng Dân, Diễn Đàn Người Việt (Paris). Hiện tại là thông tín viên thường trực của đài BBC (Anh) và chủ trương Bán nguyệt san Bạn Đường tại Paris.

LD: Xin anh cho biết quan hệ giữa anh và nhà văn Duyên Anh trước 1975?

TNL: Đầu thập niên 60, tôi có nhiều dịp gặp gỡ Duyên Anh, nhưng ở những hoàn cảnh khác: Duyên Anh đã là nhà văn nổi tiếng, trong khi tôi chưa ra trường và mới chập chững bước vào làng báo. Vào năm 1964, tôi có một vài đụng độ với Hội đồng Khoa của Trường Đại học Văn Khoa Sàigòn, khi đó anh Duyên Anh làm tại Nhật báo Sống, khi biết chuyện này, anh Duyên Anh đã viết bài bênh vực tận tình một tên sinh viên cô thế là tôi.

LD: Làm thế nào Duyên Anh biết anh có mâu thuẫn với Hội Đồng Khoa của trường đại học Văn Khoa Sàigòn? Anh có thể nói rõ hơn về sự mâu thuẫn đó? Kết quả bài viết bênh vực của Duyên Anh ra sao?

TNL: Chuyện này trẻ con lắm. Năm đó tôi mới học năm thứ nhất ĐH Văn khoa ban Triết. Cuối năm, gần 100 người đi thi thì chỉ có 3 người đậu, trong đó có tôi. Nhưng tôi lại bị đánh rớt vì tôi "xé phiếu báo danh". Đây là tác phẩm của những nhà trí thức khoa bảng thời dó là các ông Linh mục Thanh Lãng và Nguyễn Văn Trung đã áp lực lên ông Bùi Xuân Bảo và ông Khoa trưởng Nguyễn Khắc Hoạch để cương quyết đánh rớt một tên sinh viên cô thế nhưng... cứng đầu. Ông Khoa trưởng Nguyễn Khắc Hoạch vì bị áp lực nên phải thi hành, nhưng ông hiểu chuyện nên đã đề nghị tôi không khiếu nại nữa và cho thi lại kỳ 2. Dĩ nhiên tôi không chịu và Ban Đại Diện Văn Khoa hồi đó đã bênh vực tôi tận tình (các anh Phạm Quốc Bảo và Phạm Quân Khanh hiện ở Cali có thể chứng thực chuyện này). Một người bạn cũng ở trong Ban Đại Diện là anh Nguyễn Tuyển (hiện cộng tác với báo Người Việt tại Cali), vì có làm với báo Sống (ở đường Gia Long, gần đó) nên đã giới thiệu tôi với Duyên Anh và Duyên Anh nhận lời phân trần liền. Hồi đó, tôi kiện lên tận cụ Phan Khắc Sửu, Chủ Tịch Thượng Hội Đồng Quốc Gia (tương đương Quốc Trưởng). Cụ Sửu có tiếp tôi tại Dinh Gia Long (trường Đại học Văn Khoa và Dinh Gia Long chỉ cách nhau có con đường Công Lý mà thôi, nay VC đổi là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và sau đó, cụ chỉ thị cho Bộ Giáo Dục và Viện Đại Học Sàigòn cùng giải quyết câu chuyện. Tôi nhớ mãi lời cụ Sửu nói với tôi: "Qua rất thông cảm với em, nhưng qua cũng đâu có quyền chi...". Sau đó, dĩ nhiên tôi bị thua vì không thể chống lại một thế lực đã cấu kết với nhau vì ở Đại học Văn Khoa thì có Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Viện Đai học Sàigòn thì do Lâm Thanh Liêm làm Tổng thư ký kiêm trưởng ban Địa Lý tại Đại học Văn Khoa, còn tại Bộ Giáo Dục thì do Lý Chánh Trung làm Tổng thư ký. Những tên này là ai thì sau 1975 mọi người đều rõ. Có 4 Giáo sư đã bênh vực tôi hết mình là GS Langlet Quách Thanh Tâm (Trưởng ban Sử), GS Lê Thành Trị (Trưởng ban Triết Tây), GS Linh mục Kim Định (Ban Triết Đông, đã mất) và GS Trần Trọng San (Ban Văn chương Việt Hán, đã mất). Nhưng tiếng nói của 4 người cũng không thể chống lại tập đoàn nói trên. Bây giờ nghĩ lại, thấy mình trẻ con nhưng bọn họ còn trẻ con hơn mình nữa. Các anh Nguyễn Tuyển, Phạm Quốc Bảo, Phạm Quân Khanh hiện định cư tại Cali biết rõ vụ này.

LD: Theo anh Duyên Anh là nhà văn lắm tài, nhiều tật. Anh có thể chi tiết rõ rệt hơn những tật "đáng ghét" cũng như những tài "đáng quý" của Duyên Anh?

TNL: Cái đáng quý nhất của Duyên Anh, theo tôi, là chơi hết lòng với những ai mà Duyên Anh đã nhận là bạn bè hay anh em. Ngoài cái chuyện nhỏ nhặt của tôi như đã nói ở trên, sau 1975, khi anh Trần Trung Quân bị bắn ở Texas Hoa Kỳ khoảng cuối thập niên 1980, Duyên Anh đã viết một bài rất cảm động để bênh vực người cầm bút chống lại những bạo hành bất kể từ đâu đến. Và ai cũng biết rằng như vậy là Duyên Anh đã chấp nhận "gây chiến" với một thế lực chính trị khá mạnh hồi đó chỉ vì đã bênh vực ký giả kiêm soạn giả cải lương Trần Trung Quân.

Cái mà mọi người cho là đáng ghét nhất của Duyên Anh, theo tôi, có lẽ là cái tự kiêu của một nhà văn có tài nhưng lại có một thuở hàn vi rất cơ cực. Do đó, Duyên Anh rất ghét những kẻ "dựa hơi người khác", những kẻ ưa khoe khoang và nhất là ưa mang bằng cấp ra khoe. Và cái ghét ấy càng trở nên cay độc dưới ngòi bút Thương Sinh.

LD: Nói đến Duyên Anh thì không thể bỏ qua Thương Sinh. Xin anh cho biết giá trị và hiệu năng của ngòi bút Thương Sinh khi viết trên các báo của miền Nam Việt Nam?

TNL: Trước 1975, Kha Trấn Ác (nhà văn Chu Tử) và Thương Sinh là hai cây bút châm biếm "dễ sợ" nhất. Ai cũng ngại đụng độ với hai cây bút này. Phải nói ngay là trong giai đoạn đầu còn nhiều tự chế nên hai cây bút này đã đóng góp khá tích cực trong việc đả kích những thói hư tật xấu, nhất là trong chính giới như các ông bà dân cử bất tài hay những viên chức, sĩ quan cao cấp nhưng bất xứng. Nhưng càng về sau, tức là từ cuối thập niên 60 tới 1975, với cường độ chiến tranh ngày càng dữ dội, những bài châm biếm của Thương Sinh đã mất đi tính tự chế mà trở nên cay độc hơn. Oán thù cũng từ đây mà ra.

LD: Rất nhiều người ghét cay ghét đắng Thương Sinh nhưng cũng vô số độc giả ngưỡng mộ Thương Sinh. Nhận định của anh về hiện tượng này ra sao?

TNL: Đây là một sự thật không thể chối cãi. Chính anh Duyên Anh trong những lần tâm sự cũng đã nhận định như vậy. Nhiều lần anh đã nói: "Tớ chỉ muốn làm thằng Duyên Anh, nhưng định mệnh cay nghiệt cứ đưa đẩy để phải trở thành Thương Sinh". Việc có người ghét người thương Thương Sinh cũng không có gì đáng ngạc nhiên, vì Thương Sinh thuộc loại người "biết quá nhiều" và những điều Thương Sinh đề cập đến đều là những điều có thật ở xã hội ta hồi đó, chỉ có điều ngòi bút Thương Sinh quá cay độc mà thôi.

LD: Tại sao nhà văn Duyên Anh có những tác phẩm bán chạy nhất trước 1975?

TNL: Chuyện này càng dễ hiểu vì Duyên Anh đã khai thác một môi trường còn bỏ hoang, không đối thủ. Thời điểm đó, văn học Miền Nam hầu như chỉ có hai trường phái chính: trường phái "dễ dãi, bình dân" như Tùng Long, Dương Hà và cả Bình Nguyên Lộc, vv… và một trường phái "làm nghệ thuật" như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, vv… Tất cả những trường phái này hầu như quên lãng mất tuổi trẻ trong khi Duyên Anh lại dồn hết khả năng thiên phú của mình vào lãnh vực này.

LD: Nội dung của những tiểu thuyết của Duyên Anh có gì mới lạ so với những tiểu thuyết của các nhà văn đương thời khác?

TNL: Theo tôi, sự khác biệt là Duyên Anh đã can đảm nhìn thẳng vào cuộc đời trước mặt qua kinh nghiệm của chính bản thân mình cũng như của bằng hữu mình trong khi trường phái "dễ dãi, bình dân" quá ước lệ, cổ điển qua các mối tình ướt át của một Hồ Biểu Chánh kéo dài. Còn trường phái "làm văn nghệ" du nhập những tư tưởng mới của Tây Phương qua những suy tư, dằn vặt đôi khi rất nặng nề, nhiều kịch tính. Riêng tiểu thuyết của Duyên Anh thì rất sống động như một thiên phóng sự về cuộc đời trước mặt.

LD: Duyên Anh thường nói là ông viết văn theo lối "Quốc Văn Giáo Khoa Thư". Phải chăng lối viết văn này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công?

LD: Theo tôi, điều này chỉ đúng một phần. Cái quan trọng là Duyên Anh đã có một cái nhìn sắc bén, và qua chính cuộc đời chìm nổi của mình, ông đã tạo nên những nhân vật thật chứ không ước lệ hay suy tư một cách sách vở và giả tạo như các trường phái đương thời.

LD: Nhà văn Quyên Di nhận định: "Lối viết của Duyên Anh đi thẳng vào vấn đề. Nó mạnh và chân tình". Suy nghĩ của anh về nhận định này?

TNL: Tôi cũng đồng ý với anh Quyên Di. Lối viết này đã gây xúc động mạnh nơi người đọc vì nó không có mục đích "làm dáng". Nhưng nó cũng đã gây nhức nhối nơi những người xấu bị Duyên Anh nhắc đến để tạo thành oán thù bởi vì tác phẩm nào của Duyên Anh cũng đều là những bức tranh có thực ngoài đời kèm theo một chút hư cấu của tiểu thuyết.

LD: Tiểu thuyết "Ngựa Chứng Trong Sân Trường" là một trong những tác phẩm rất nổi tiếng của nhà văn Duyên Anh. Ảnh hưởng của tiểu thuyết này nhất là trong vụ "trò đánh thầy" ở Nha Trang như thế nào?

TNL: Tôi không nghĩ rằng vụ "trò đánh thầy" là do ảnh hưởng của Duyên Anh. "Ngựa chứng trong sân trường" là tập hợp của nhiều mẩu chuyện có thật ngoài đời, và với cái nhìn bén nhạy và ngòi bút sống động, Duyên Anh đã tạo nên những nhân vật tiêu biểu của xã hội thời đó. Cũng như các nhân vật du đãng chẳng hạn. Duyên Anh đã mượn những câu chuyện kể, những hình ảnh có thật của những nhân vật du đãng thực để tạo nên nhân vật Trần Đại chứ đâu phải vì đọc tác phẩm của Duyên Anh rồi trở nên du đãng?

LD: Vì một vụ "trò đánh thầy" ở Nha Trang nên Duyên Anh mới viết "Ngựa Chứng Trong Sân Trường". Anh có thể cho biết ảnh hưởng của tác phẩm đó đối với độc giả thời bấy giờ? Có "tin đồn" là vì tiểu thuyết quá nổi tiếng đó đã khiến một số người muốn Duyên Anh làm dân biểu thành phố Nha Trang?

TNL: Tất cả những tác phẩm của Duyên Anh đều mang tính thời sự. Chất chứa những quan niệm, những suy tư và những kinh nghiệm của tác giả với những vấn đề, những sự kiện đang xảy ra quanh mình. Duyên Anh không chạy trốn thực tại để chui vào tháp ngà của văn chương, dù đó có thể là một thực tại đau thương. Duyên Anh can đảm chọn đề tài và xông vào với ước mơ giải quyết. Giải quyết không phải chỉ chung cho xã hội mà còn giải quyết những hằn đau của chính mình. Do đó, tác phẩm của Duyên Anh gần với những phóng sự xã hội hơn là với thế giới văn chương, dù rằng Duyên Anh vẫn tận dụng những hình ảnh hư cấu của tiểu thuyết. Chuyện người dân Nha Trang muốn Duyên Anh là dân biểu ở Nha Trang thì tôi không biết rõ. Nhưng nếu chuyện ấy có thật thì không có gì lạ. Vì cho đến bây giờ, sau khi Duyên Anh qua đời đã lâu mà người thương vẫn nhiều!

LD: Sau ngày 30/4/1975, trước khi Duyên Anh đi tù, anh có thường liên lạc với Duyên Anh? Nếu có, thái độ và suy nghĩ của Duyên Anh trong thời kỳ đó như thế nào?

TNL: Điều này tôi xin miễn trả lời vì một lý do rất dễ hiểu là tôi bị bắt trước khi có vụ "đi học tập cải tạo tập trung" của các sĩ quan và viên chức cao cấp của miền Nam cũng như vụ càn quét văn nghệ sĩ sau đó. Được thả năm 1980, tôi rất ít ở Sàigòn mà lặn lội ở vùng từ Biên Hòa, Bà Rịa, Phước Tĩnh, Long Hải, Lộc An, Xuyên Mộc để tính chuyện vượt biên. Thỉnh thoảng có dịp ghé về Sàigòn cũng ít gặp lại anh em bạn bè cũ. Nếu có gặp cũng rất ngại ngùng, không dám nói nhiều, vì không khí Sàigòn giai đoạn này rất ngột ngạt, khó thở. Không dám tin ai nữa. Tin đồn thì nhiều nhưng không thể kiểm chứng.

LD: Sự đối xử của chính quyền cộng sản đối với văn nghệ sĩ miền Nam nói chung, cũng như đối với Duyên Anh nói riêng ra sao?

TNL: Trong suốt giai đoạn này, tôi không có dịp gặp Duyên Anh cũng như một số người khác vì đa số nếu còn kẹt lại thì đều đi tù cả. Nhìn chung, chính sách của chính quyền CS đối với văn nghệ sĩ miền Nam là loại hẳn thành phần này ra khỏi cuộc sống. Anh em bị theo dõi gắt gao bởi những tên nằm vùng. Tất cả những lời nói hoa mỹ chỉ nhằm trấn an, giảm bớt những căng thẳng đang phủ khắp trong đời sống người dân miền Nam. Như trên đã nói, tin đồn thì nhiều, nhưng không thể kiểm chứng. Người tôi thường gặp nhất là nhà văn Nguyễn Nghiệp Nhượng, anh vá xe đạp ở một góc đường ở Đakao. Trần Tuấn Kiệt thì rất thê thảm. Trong khi đó, Từ Kế Tường thuộc "lò" của Duyên Anh thì làm lớn trong Sở Công an vì có ông bố vợ tập kết và làm lớn trong ngành. Tôi rất ngại gặp những người bạn cũ thuộc loại "có gia đình tập kết" hay "có công với cách mạng".

LD: Lý do nào khiến anh bị bắt trước khi có vụ "đi học tập cải tạo tập trung" của các sĩ quan và viên chức cao cấp của miền Nam cũng như vụ càn quét văn nghệ sĩ sau đó?

TNL: Sau 1975 thì chuyện gì cũng có thể xảy ra. Như đã trình bày ở trên, tôi làm việc tại Việt Tấn Xã và có thời gian làm việc với Đài Phát Thanh Sàigòn cũng như đài phát thanh quân đội. Vì thế mỗi khi đi theo những đơn vị hành quân, tôi cũng mặc đồ lính như mọi người để dễ dàng làm nhiệm vụ tại chiến trường dù rằng tôi không phải là lính. Khi xong việc, trở lại Sàigòn, tôi ghé ngang nhà để tắm rửa và thay đồ. Chính vì vậy mà một ông nằm vùng tại xóm tôi đã tố cáo với công an VC rằng tôi là loại "lính mặc thường phục" vậy không phải là sĩ quan tình báo thì cũng là... CIA. Họ lý luận đơn giản như vậy và tôi được "hân hạnh" đi tù sớm hơn mọi người.

LD: Nguyên nhân nào khiến cộng sản xếp Duyên Anh vào một trong những biệt kích văn nghệ nguy hiểm nhất của miền Nam Việt Nam?

TNL: Rất dễ hiểu vì Duyên Anh hiểu quá rõ thế nào là cộng sản. Duyên Anh đã tham gia vào các đảng phái chính trị chống cộng rất sớm (trước cuộc di cư năm 1954). Toàn bộ tác phẩm của Duyên Anh đã phản ánh rõ điều này. Một yếu tố phụ nhưng cũng quan trọng: một số những tên VC nằm vùng trong giới văn nghệ ở miền Nam cũng đã có nhiều thù oán với các bài chỉ trích của Thương Sinh.

LD: Khi Duyên Anh ra tù, anh và anh Duyên Anh gặp lại nhau ở Việt Nam?

TNL: Như trên đã trình bày, tôi không gặp lại Duyên Anh ở Việt Nam sau ngày 30-4-75. Năm 1982, tôi tới được trại Palawan (Philippines). Ở đây thì những lời đồn đãi về Duyên Anh nhiều hơn, nhưng chỉ thuộc loại "nghe nói", "nghe kể" mà thôi. Mãi tới cuối năm 1983 tôi mới gặp lại Duyên Anh ở Paris.

LD: Thời gian còn bên Việt Nam, anh đã nghe đồn Duyên Anh là ăng ten? Nếu có, trong trường hợp như thế nào? Anh tin hay không vào những lời đồn đại đó?

TNL: Như đã trình bày ở trên, những lời đồn "Duyên Anh làm ăng ten" tôi có nghe xầm xì ở Sàigòn, nhưng cũng chỉ là loại "nghe nói" mà thôi. Tôi chưa gặp được ai chứng nhận là ở cùng trại với Duyên Anh hoặc là nạn nhân trực tiếp của Duyên Anh trong tù. Còn có tin hay không thì tôi có thể trả lời là "không" và "có". "Có" vì nếu có ở tù VC trong giai đoạn sắt máu bi thảm này thì thấy rằng chuyện đó có thể xảy ra vì sự yếu đuối của con người trước hoàn cảnh tuyệt vọng cùng cực tại đây. Cũng cần ghi lại ở đây là gương hào hùng của các tù nhân cải tạo nhiều lắm, nhưng phần lớn những người này đã nằm lại vĩnh viễn trong lòng đất mẹ vì cái đòn thù dã man, đê tiện của bọn VC: xác chết được dàn cảnh mắc lên hàng rào với tội danh và chứng tích là "trốn trại". Sự thật bi thảm là có nhiều người hùng trong tù, đồng thời cũng có nhiều ngôi mộ hoang tại một góc rừng nào đó.

"Không" vì tôi cũng đã chứng kiến nhiều chuyện tương tự. Cũng trong hoàn cảnh cực kỳ bi thảm và tuyệt vọng như vậy, nhiều người đã có những sáng kiến thật độc đáo tùy theo với ước mơ và bản chất của chính mình. Sự tưởng tượng đã được đẩy tới cao độ và mọi chuyện đều có thể được sáng tạo trong hoàn cảnh này. Duyên Anh có thể là nạn nhân và lãnh hết mọi hậu quả do Thương Sinh đã gây ra trước đó. Ta cũng không nên quên bọn VC quỷ quyệt, họ rất giỏi trong việc chia để trị. Dễ lắm, chúng muốn hại ai chỉ cần cho người đó một vài đặc ân như cho làm việc nhẹ, lâu lâu lại miễn lao động một lần. Thế thôi. Và lòng nghi ngờ xen lẫn ghen tị của một vài người cũng đang tuyệt vọng khác có cơ bùng phát. "Thằng đó là ăng ten"! Thật đơn giản nhưng đã xảy ra cùng khắp. Ngay ở cộng đồng VN hải ngoại bây giờ cũng vậy, tuy hình thức có khác, nhưng không ngoài mục đích chia để trị hoặc triệt hạ một cá nhân nào đó, nếu chúng thấy người này nguy hiểm cho chúng.

LD: Thái độ của các văn nghệ sĩ miền Nam tại Việt Nam về những lời đồn đại "Duyên Anh là ăng ten" vào những năm tháng đó?

TNL: Như đã trình bày ở trên: Duyên Anh là nạn nhân của Thương Sinh! Do đó, nguồn tin "Duyên Anh là ăng ten", ai thương Duyên Anh thì không tin hoặc bán tín bán nghi, còn những người có ân oán giang hồ với Thương Sinh thì cho chuyện này là có thật, dù họ chỉ "nghe nói". Thật tình, trong số những văn nghệ sĩ mà tôi gặp, trong đó có cả những người thuộc loại "nằm vùng" cũng không có ai nêu ra vấn đề này trong câu chuyện. Mà câu chuyện "Duyên Anh làm ăng ten" chỉ được thường xuyên nhắc tới ở giới "ngồi lê đôi mách" la cà các quán cà phê bên đường; mà giới này thì nhiều công an chìm và chỉ điểm lắm…

LD: Thái độ của các văn nghệ sĩ miền Nam tại Paris (khi anh đến định cư) về những lời đồn đại đó?

TNL: Chuyện này thì hơi dài dòng. Sau 30-4-75, số văn nghệ sĩ chạy qua Pháp và Âu châu ít lắm. Đếm không quá 10 đầu ngón tay. Ngay như BCH Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đầu tiên phục hoạt tại Pháp năm 1977 cũng chỉ có mình chị Minh Đức Hoài Trinh và Luật sư Trần Thanh Hiệp là danh chính ngôn thuận mà thôi. Các thành viên còn lại đều thuộc loại "chưa hề có tác phẩm". Có người còn chưa viết nổi một cái truyện ngắn hay một bài thơ xoàng, kể cả ông Tổng Thư Ký. Trong hoàn cảnh như thế, thì "thái độ" của các "văn nghệ sĩ" này kể như không đáng kể, bởi vì họ cũng thuộc hàng ngũ "nghe ông X nói". Hỏi đến ông X thì lại "do thằng Y nói", vv… Tôi có thể nói thẳng là việc thổi phồng chuyện này ở hải ngoại là do chính những "liên hệ không hòa thuận trong quá khứ" của cá nhân ông Tổng Thư Ký Văn bút "không tác phẩm" với nhà văn "thứ thiệt" Duyên Anh mà ra cả. Còn các văn nghệ sĩ đúng nghĩa khác ở Paris và Âu châu không ai thắc mắc về vấn đề này . (Ông TTK này vốn là một sĩ quan cấp tá, làm xếp một tờ báo của một quân chủng trước 75, nhưng bài vở hoàn toàn do người khác viết).

LD: Anh nói "thẳng" hơn để mọi người rõ những "liên hệ không hòa thuận trong quá khứ" của cá nhân ông TTK Văn bút "không tác phẩm" với nhà văn "thứ thiệt" Duyên Anh? Ông TTK tên gì, trước đây làm gì, hiện nay hoạt động ra sao...?

TNL: Thôi thì tôi cũng phải nói cho mọi người khỏi thắc mắc. Vấn đề này tôi đã trình bày rất chi tiết và rõ ràng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong mấy năm trước, khi mà Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại chia làm 2 phe đánh nhau tận mạng, mà nguyên nhân là các nhà văn Việt Nam tại nơi khác không hiểu rõ về những vướng mắc ban đầu tại Paris của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Sau 1975, một số người có tâm huyết tại Paris đã thúc đấy nhà văn Minh Đức Hoài Trinh bằng những liên hệ tốt đẹp của mình giành lấy Hội Văn Bút nếu không thì bọn Việt Cộng sẽ giành mất. Kết quả thành công như mọi người mong muốn. Nhưng một vấn đề quan trọng xảy ra: số nhà văn đúng nghĩa định cư tại Paris, Pháp cũng như Âu Châu quá ít, không đủ cho một Ban Chấp Hành. Do đó có hiện tượng là Thủ quỹ của Văn Bút Việt Nam hải ngoại là một ông chưa hề viết bao giờ và viết tiếng Việt thường cũng không chỉnh. Và ông Tổng Thư Ký là người chưa hề có tác phẩm dù là 1 cái truyện ngắn hay một bài thơ loại thường. Ông thủ quỹ thì không có vấn đề nhưng ông Tổng Thư Ký là nguồn gốc của giông bão. Đó là ông Trần Tam Tiệp. Trước 1975, ông Tiệp là Trung tá Không Quân, phụ trách tờ nội san Lý Tưởng của Không Quân. Hồi ở Sàigòn, tờ Lý Tưởng đăng bài của các nhà văn thuộc quân chủng Không Quân mà các cây viết chính của tờ báo là các nhà văn "thứ thiệt" gia nhập Không Quân với tính cách là Hạ sĩ quan "đồng hóa" để làm báo, khỏi phải ra mặt trận. Trở lại Paris, việc làm của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại hồi này rất bận rộn vì một mặt phải củng cố vai trò của mình, mặt khác phải kiếm phương tiện để giúp đỡ các văn nghệ sĩ còn kẹt lại ở bên nhà. Như đã nói ở trên, ông Tổng thư ký Trần Tam Tiệp vì không phải là một nhà văn và cũng chẳng phải là một nhà báo đúng nghĩa, mà ông nắm tờ Lý Tưởng chỉ vì ông là sĩ quan cao cấp ngành Tâm Lý Chiến (ông phụ trách về An ninh phi trường) nên trong việc giúp đỡ anh chị em bên nhà còn nhiều sai sót vì ông chỉ gửi cho những ai mà ông quen biết trước kia mà thôi, kế đó là các văn nghệ sĩ quân đội. Còn các văn nghệ sĩ dân sự thường bị sót tên mà Duyên Anh là một trong số những người bị sót tên đó. Như trên đã nói, bản chất Duyên Anh rất cứng, không chịu "xuống nước", nên lời qua, tiếng lại, xích mích ngày càng nặng. Khi Duyên Anh qua Pháp năm 1983 (trước tôi mấy tháng) thì không khí cuộc gặp gỡ rất nặng nề... Năm 1986 hay 87 (tôi nhớ không rõ vì bài trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong chưa tìm ra), Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại bầu lại. Nghe tin này, chúng tôi gồm những những người không phải là hội viên (gồm ông Mai Trung, Giám đốc nhà xuất bản Nam Á, nhà văn Duyên Anh, nhà văn Nguyên Vũ, ông Phạm Hữu, chủ nhiệm tờ Chiến Hữu, Dịch giả Bạch Phát Tú Tài và tôi) rủ nhau ghé qua xem có gặp ai quen không. Chúng tôi đã gặp một sự thật thê thảm: trong phòng chỉ có 4 người là: ông Tổng thư ký Trần Tam Tiệp, hai hội viên là ông bác sĩ Bảng, ông Tô Vũ (không phải nhạc sĩ Tô Vũ đâu) và nhạc sĩ Lê Trạch Lựu (tác giả bài Em tôi, nhưng sau đó nhạc sĩ Lê Trạch Lựu cho biết ông không phải hội viên, chỉ ghé qua chơi mà thôi). Còn các nhân vật khác đều vắng mặt, đó là: ông Chủ tịch luật sư Trần Thanh Hiệp, Phó chủ tịch: nhà báo Ang Ca (Bỉ), thủ quỹ và các hội viên chính thức như các nhà văn Hồ Trường An, Kiệt Tấn... (Về sau được biết là không một ai được mời hay thông báo gì cả, trừ nhà báo Nguyễn Ang Ca được mời qua điện thoại, nhưng vì mời gấp quá lại không có phương tiện nên không thể qua Paris...) Trước cái đại hội quái đản như vậy, Duyên Anh và Nguyên Vũ cũng như mọi người đề nghị nên hoãn lại một tháng và phải gửi giấy mời đến ít nhất là các thành viên của Ban Chấp Hành v.v... Thế là sau đó ít lâu, trong đại hội bầu Ban Chấp Hành mới, ông Trần Tam Tiệp đã từ chối khi được đề nghị vào chức Phó Chủ tịch và tuyên bố rút ra khỏi Văn Bút và tung bài trên báo ở Mỹ tố Duyên Anh là "ăng-ten" như mọi người đã biết.

LD: Đã có nhà văn, nhà báo nào lên tiếng, bênh vực hẳn hòi cho Duyên Anh?

TNL: Ở những nơi khác thì tôi không rõ. Còn ở Pháp và Âu châu thì chưa có. Như đã nói ở trên, các văn nghệ sĩ thực thụ ở đây không ai bận tâm đến vấn đề này. Chuyện này chỉ có nơi các nhà văn không tác phẩm mà thôi.

LD: Tại sao những bạn văn, bạn đời, bạn thân, bạn chữ nghĩa của Duyên Anh trước 1975 như: Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo, Nguyên Sa... hoàn toàn im lặng về vấn đề đó? Thậm chí, Tạ Tỵ là nhà văn công kích Duyên Anh nhiều nhất và Mai Thảo thì "im lặng ủng hộ" Tạ Tỵ hoàn toàn? Nó một cáck khác, tại sao có sự thay đổi 180 độ giữa tình bạn của Duyên Anh với những bạn văn rất thân thiết trước 1975? Nguyên nhân chính là "ăng ten"?

TNL: Câu hỏi này khá tế nhị, nếu không muốn nói là khó. Đầu tiên tôi xin nhắc lại là "bạn" với Duyên Anh thì Mai Thảo và Nguyên Sa có thể. Nhưng Nguyễn Xuân Hoàng và Tạ Tỵ thì không. Trường hợp Mai Thảo và Nguyên Sa ta có thể hiểu được vì hai ông này chơi với cả Tạ Tỵ lẫn Duyên Anh. Thêm nữa, nói ra một điều mà không có chứng cớ rõ ràng thì những nghệ sĩ cỡ như Mai Thảo và Nguyên Sa sẽ không nói. Riêng trong một cuộc gặp gỡ ở Paris vào khoảng năm 85 hay 86, Mai Thảo và Duyên Anh rất tương đắc với nhau. Lần này có cả nhà văn Võ Phiến, người mà trước 75 đã bị Duyên Anh tấn công nhiều lần. Và cả ba người đã vui vẻ cụng ly bỏ hết quá khứ. Tôi còn giữ được một bài viết của nhà văn Hồ Trường An và một bài của chính tôi cùng hình ảnh về buổi hội ngộ này. (Những tài liệu này dài quá, nếu các bạn muốn, cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi tới để các bạn có thể tùy nghi sử dụng, chính bản viết tay của Hồ Trường An cũng như của Duyên Anh).

Trường hợp Tạ Tỵ công kích Duyên Anh thậm tệ cũng không khó hiểu lắm vì hai người đã "không ưa nhau" từ trước 1975. Thêm nữa, sau 1975, VC có xuất bản cuốn "Mười tên biệt kích văn nghệ…" để kết tội một số văn nghệ sĩ của miền Nam. Cuốn này tôi đã đọc khi còn kẹt ở Sàigòn. Duyên Anh, Mai Thảo, Võ Phiến đều bị hài tội, nhưng Tạ Tỵ thì không có tên trong danh sách "biệt kích" này. Tôi cũng chưa có hân hạnh đọc cuốn hồi ký của Tạ Tỵ. Nhưng nếu quả thật ông Tạ Tỵ nhận mình là một trong số những tên biệt kích ấy thì thật khôi hài. Còn Nguyễn Xuân Hoàng thì đâu có đủ "nội lực" để kết tội Duyên Anh vì sau 30 tháng 4 năm 1975, ông Hoàng đã làm gì ở Sàigòn, ông ta im lặng là khôn ngoan, nói nhiều không có lợi. (Còn tiếp một kỳ...)

 

0 ý Kiến.

There are no comments to this entry.

Post New Comment

This Blog owner requires you to have a Bravenet Blog account in order to post to this entry. If you have a Blog account, enter your username and password below.
No Smilies More Smilies »
Please type the letters you see